Cao huyết áp và những biến chứng nguy hiểm

 Cao huyết áp là nguyên nhân chính gây tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim, suy tim, suy thận, mù lòa, bệnh động mạch ngoại vi… Những biến chứng này có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe người bệnh, gây tàn phế thậm chí là tử vong và trở thành gánh nặng về tinh thần cũng như vật chất cho gia đình bệnh nhân cũng như toàn xã hội.

cao chè vằng | tác dụng của chè vằng | cao chè vằng lợi sữa

Đối phó với Huyết áp cao thế nào?
Ngoài chế độ ăn uống hợp lý, tránh các thức ăn nhiều dầu mỡ, không ăn mặn, không sử dụng bia rượu…thì người huyết áp cao nên chú trọng tập luyện và thay bằng chế độ thức ăn nhiều xơ, và các loại thức thức ăn tốt cho người huyết áp như Cần tây, uống sữa đậu nành…
 
 
Các biến chứng thường gặp của cao huyết áp
 
Các biến chứng tim mạch
Cao huyết áp lâu ngày làm mảng xơ vữa động mạch và làm hẹp mạch vành. Khi động mạch vành bị hẹp nhiều, bệnh nhân thấy đau ngực, nghẹn trước ngực khi gắng sức, khi vận động nhiều, leo cầu thang... Nếu mảng xơ vữa động mạch bị nứt, vỡ thì trong động mạch vành hình thành huyết khối, làm tắc động mạch vành và làm bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim. Khi bị nhồi máu cơ tim, bệnh nhân thấy đau dữ dội trước ngực, khó thở, toát mồ hôi, có thể đau lan lên cổ, lan ra sau tay trái, ra sau lưng…
Cao huyết áp cũng làm dày cơ tim
Bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim do cao huyết áp sẽ có một vùng cơ tim bị chết, không thể co bóp được, dẫn đến suy tim. Cao huyết áp lâu ngày làm cơ tim phì đại, nếu không được điều trị cũng sẽ dẫn đến suy tim.
Các biến chứng về não
Tai biến mạch máu não
Xuất huyết não: Khi huyết áp lên quá cao, mạch máu não không chịu nổi áp lực cao có thể bị vỡ, lúc đó bệnh nhân bị xuất huyết não, gây liệt nửa người, liệt hoàn toàn, nặng thì có thể tử vong (triệu chứng của bệnh nhân tùy vùng xuất huyết lớn hay nhỏ và tùy vị trí vùng xuất huyết).
Nhũn não: Cao huyết áp làm hẹp mạch máu nuôi não (tương tự mạch vành), nếu mảng xơ vữa bị nứt, vỡ, làm hình thành cục máu đông, làm tắc mạch máu não gây chết một vùng não (còn gọi là nhũn não).
Thiếu máu não: Cao huyết áp làm hẹp động mạch cảnh, động mạch não, làm máu bơm lên não không đủ khiến người bệnh thấy chóng mặt, hoa mắt, có khi bất tỉnh.
Các biến chứng về thận
Cao huyết áp làm hỏng màng lọc của tế bào thận, làm bệnh nhân tiểu ra protein (bình thường không có), lâu ngày gây suy thận.
Cao huyết áp còn làm hẹp động mạch thận, làm thận tiết ra nhiều chất renin, khiến huyết áp tăng cao. Hẹp động mạch thận lâu ngày cũng gây ra suy thận.
Biến chứng về mắt
Cao huyết áp làm hư mạch máu võng mạc,
Cao huyết áp còn làm xuất huyết võng mạc, phù đĩa thị giác làm giảm thị lực, thậm chí có thể dẫn đến mù lòa.
Các biến chứng tai biến mạch máu.
Cao huyết áp làm động mạch chủ phình to, có thể bóc tách và vỡ thành động mạch chủ dẫn đến chết người.
Cao huyết áp làm hẹp động mạch chận, động mạch đùihai động mạch chi dưới bị hẹp nhiều, bệnh nhân đi một đoạn đường thì đau chân, phải đứng lại nghỉ (đau cách hồi).
Cao huyết áp nếu không được điều trị đúng và đầy đủ sẽ có rất nhiều biến chứng nặng nề, thậm chí có thể gây tử vong hoặc để lại di chứng ảnh hưởng đến sức khỏe, sức lao động của người bệnh, khiến người bệnh trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội.

 
Giải pháp hiệu quả sử dụng nước uống nguồn gốc thảo dược.
Theo nghiên cứu của LAVA trong Chè vằng có hợp chất terpenoid, vị đắng có tác dụng giảm huyết áp rất tốt, đặc biệt với người cao tuổi bị huyết áp cao ( một trong những nguyên nhân gây tử vong cao ở người cao tuổi) 
Ngoài ra, theo kinh nghiệm sử dụng trong dân gian, Chè vằng sử dụng hằng ngày không chỉ mát gan, lợi tiểu, tiêu hóa tốt mà còn tốt với người bị tiểu đường hoặc đường trong máu cao.
Lưu ý: Người huyết áp thấp không nên sử dụng Chè vằng, vì có thể xảy ra trường hợp chóng mặt do hạ huyết áp.
Cao Chè vằng LAVA
 
                Cao Chè vằng LAVA hỗ trợ tốt cho bệnh huyết áp cao
     

Sản phẩm của chúng tôi hoàn toàn được sản xuất tại Việt Nam, dược liệu hoàn toàn tự nhiên 100% Chè vằng, không hóa chất, phụ gia, chất bảo quản, đã được cơ quan Y tế cấp phát và ban hành theo tiêu chuẩn số  ĐKCL: 03/2010/YTQT-CNTC. Vì vậy bạn có thể an tâm sản phẩm mang lại lợi ích cho sức khỏe mà không gây bất kỳ tác dụng phụ nào với người tiêu dùng.

Những điều quan trọng mà người cao huyết áp nên biết

Những lời khuyên sau đây của TS. Tạ Mạnh Cường giúp bạn phòng ngừa và điều trị tốt hơn bệnh tăng huyết áp…
 
 Tăng huyết áp được xác định khi huyết áp tâm thu từ 140 mmHg hoặc huyết áp tâm trương từ 90 mmhg trở lên. 90% bệnh nhân tăng huyết áp không có nguyên nhân (bệnh tăng huyết áp). Lứa tuổi thường mắc là độ tuổi trung niên, nam giới thường mắc nhiều hơn nữ giới.

Tăng huyết áp hiện nay đã  trở thành  mối đe dọa không chỉ đối với người dân nước ta mà còn đối với nhân dân ở nhiều khu vực khác nhau trên thế giới bởi tỷ lệ mắc bệnh ngày một nhiều và tỷ lệ tử vong ngày một cao do các biến chứng của bệnh. Bệnh có thể diễn biến từ từ và nhiều khi không có triệu chứng báo trước cho đến khi xảy ra các biến chứng nội tạng. Tuy nhiên, một số dấu hiệu sau có thể gợi ý tăng huyết áp:
– Cảm giác nặng căng đầu và làm việc nhanh mệt. cũng có khi cảm giác đau đầu lan toả, váng đầu, tiếng ve kêu, nhức mắt và giảm thị lực.
– Hồi hộp đánh trống ngực, cảm giác khó thở, chẹn ngực. rối loạn tiểu tiện, hay đi đái đêm…
Đối với người bình thường, nếu không có những dấu hiệu nói trên thì cũng nên  kiểm tra huyết áp tối thiểu mỗi 5 năm một lần. Cần lưu ý  là đối với những người béo phì, có thói quen ăn mặn, nghiện rượu, khẩu phần ăn hàng ngày thiếu can  xi, magiê, những người trong gia đình có người bị tăng huyết áp, đái tháo đường hoặc đột tử phải đo huyết áp ít nhất mỗi năm một lần.
Khi nghi ngờ tăng huyết áp, người bệnh nên đến khám tại một cơ sở khám chữa bệnh nội khoa hoặc chuyên khoa tim mạch. Tại đây người bệnh sẽ được các bác sĩ thăm khám, đo huyết áp và làm những xét nghiệm cần thiết như xác định số lượng hồng cầu, bạch cầu, huyết sắc tố, đánh giá chức năng gan, thận, đo đường máu, điện giải máu, các thành phần lipid máu, xét nghiệm nước tiểu, điện tim đồ, siêu âm tim… Người bệnh cần tuân thủ mọi chỉ dẫn của thày thuốc về chế độ ăn uống, làm việc và dùng thuốc khi đã được chẩn đoán tăng huyết áp và không được tự ý ngừng thuốc điều trị khi thấy huyết áp đã trở về bình thường khi không có ý kiến của thày thuốc. Thông thường thời gian điều trị tăng huyết áp rất dài, ngay cả khi  huyết áp đã  trở về bình  thường người bệnh vẫn phải tiếp tục uống thuốc. Ngừng thuốc đột ngột có thể làm  khởi phát cơn tăng huyết áp kịch phát nặng rất nguy hiểm. Một điều cần chú ý nữa là người bệnh không được tự mua thuốc điều trị khi không có sự chỉ dẫn và theo dõi của thày thuốc vì tự ý dùng thuốc có thể nguy hiểm đến tính mạng.
Người bệnh tăng huyết áp nên ăn giảm muối, không ăn các loại thức ăn có chứa nhiều muối như dưa muối, cà muối. người bệnh cũng không nên ăn các loại phủ tạng động vật như tim, gan, thận, lòng lợn, tiết canh, não, da các loại gia cầm vì  những loại thức ăn này thường gây rối loạn lipid máu mà  biểu hiện là lượng cholesterol, tryglycerides, LDL – cholesterol tăng cao. Rối loạn lipid máu cũng là một  yếu tố nguy cơ tim mạch quan trọng. Tăng huyết áp phối hợp với rối loạn lipid  máu  sẽ làm gia tăng các biến cố tim mạch như nhồi máu cơ tim, tai biến mạch não, vữa xơ động mạch. Giảm 1% nồng độ cholesterol máu sẽ làm giảm 2 – 3% nguy cơ mắc bệnh mạch vành. chúng ta có thể làm giảm 20% cholesterol hoặc hơn nữa và cứ giảm mỗi mmHg huyết áp tâm trương sẽ làm giảm 2 – 3% nguy cơ bệnh mạch vành  và  cứ giảm 5 mmHg huyết áp tâm trương làm giảm 35 –  40% nguy cơ đột quỵ. Những con số này cho thấy rõ lợi ích của việc phòng ngừa, phát hiện và điều trị đồng thời hai bệnh lý tăng huyết áp và  rối loạn lipid máu. Mặt khác nên bổ sung can xi và magiê trong khẩu phần ăn và ăn thêm các loại rau quả, ngũ cốc nguyên hạt và bánh mì, các sản phẩm từ cá, thịt nạc…
Phát hiện và điều trị tăng đường máu (bệnh đái tháo đường) đi kèm là một trong  những lưu ý  hàng đầu của người bệnh tăng huyết áp. người ta thấy tăng huyết áp hiện diện ở 20% bệnh nhân đái tháo đường týp 1 (đái tháo đường phụ thuộc insulin) và  70% ở bệnh nhân đái tháo đường  týp  2  (không  phụ thuộc insulin). Sự có mặt đồng thời của tăng huyết áp và đái tháo đường làm tăng biến chứng mạch máu lên nhiều lần kèm theo nguy cơ chết do bệnh mạch vành, suy tim và tai biến mạch não. bên cạnh chế độ ăn và dùng thuốc để đường máu trở về bình thường thì  cần giảm huyết áp xuống thấp hơn so với huyết áp của những bệnh nhân tăng huyết áp mà không kèm theo bệnh đái tháo đường.
Người bệnh tăng huyết áp cần tăng cường hoạt động thể lực, ít nhất là nửa giờ mỗi ngày.  Tuy  nhiên,  những hoạt động thể lực phải đảm bảo an toàn,  không gắng sức và  không  mang  tính  thể thao. Đi bộ là  một hình  thức tập luyện tốt rất được khuyến khích thực hiện. Người bệnh cũng có thể sinh hoạt tình  dục bình thường nếu huyết áp được kiểm soát tốt.
Hút thuốc lá là một yếu tố nguy cơ của hệ tim mạch. Tỷ lệ nhồi máu cơ tim, đột quỵ, bệnh động mạch chi dưới ở người hút thuốc lá cao hơn rõ rệt so với người không hút thuốc lá. Ngừng hút thuốc lá sẽ làm những nguy cơ tim mạch nói trên giảm dần. Cà  phê  là  một loại thức uống có khả năng làm tăng nhịp tim và tăng huyết áp ngay cả đối với người bình  thường, vì  vậy bệnh nhân tăng huyết áp không nên dùng cà phê. Cà phê không gây ảnh hưởng đến lượng đường trong máu của bệnh nhân đái tháo đường nhưng làm tăng a xít uríc máu, vì  vậy người mắc bệnh goutte (a xít uríc máu tăng) không nên dùng. Rượu vang đỏ có tác dụng tốt đối với thành mạch máu nếu mỗi ngày dùng không quá 60 ml. Tuy nhiên nếu uống nhiều rượu vang đỏ và uống kéo dài thì có thể mắc một số chứng bệnh đường tiêu hoá như xơ gan và ung thư gan.

(Lượt xem: 1, Lượt xem trong ngày: 1)

Bài trước:

Bài sau:

Condotel Vinpearl